80 năm "chuyển mình" của kinh tế Việt Nam

Từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp nặng nề đến nền kinh tế thị trường hội nhập sâu rộng, Việt Nam đã trải qua những năm tháng chuyển mình đầy biến động nhưng cũng không kém phần quyết liệt. Hành trình này minh chứng cho khả năng thích ứng thể chế, đổi mới chính sách và nỗ lực vươn lên của đất nước.

Sau 80 năm chuyển mình, Việt Nam đã thể hiện sức mạnh thích ứng, đổi mới và khát vọng vươn lên. Ảnh: TTXVN
Sau 80 năm chuyển mình, Việt Nam đã thể hiện sức mạnh thích ứng, đổi mới và khát vọng vươn lên. Ảnh: TTXVN

Bà Nguyễn Thị Bình ở Nam Định nhớ rõ những năm 80 thế kỷ trước, khi sáng nào cũng phải dậy từ tờ mờ, ôm chiếc rổ tre chen trong hàng dài trước cửa hàng mậu dịch. Trong tay bà là cuốn sổ gạo, “tấm vé” duy nhất để đổi lấy vài lạng thịt hay cân gạo cho cả nhà. “Có tiền mà cũng chẳng mua được gì, chỉ trông vào tem phiếu. Nhiều hôm hết lượt, cả nhà đành ăn khoai, sắn thay cơm”.

Bước ngoặt lịch sử

Không chỉ người dân gặp khó, các doanh nghiệp cũng rơi vào tình trạng tương tự, bị giới hạn quyền tự quyết trong khuôn khổ kế hoạch hóa tập trung. Nguyên liệu thiếu hụt, vốn hạn chế, thiết bị lạc hậu, trong khi chỉ tiêu sản xuất do Nhà nước đặt ra thiếu linh hoạt. Sản xuất đình trệ, hàng hóa khan hiếm, giá cả méo mó, và nhiều ý tưởng cải tiến bị dập tắt, khiến sáng tạo và cạnh tranh gần như không tồn tại.

Theo TS Nguyễn Bích Lâm, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, sau thống nhất đất nước (1976), Nhà nước áp dụng triệt để mô hình kế hoạch hóa, xóa bỏ doanh nghiệp tư nhân, bao cấp toàn diện cho mọi hoạt động kinh tế - xã hội. Nguồn lực quốc gia bị dồn ép, sản xuất đình trệ, hàng hóa khan hiếm, thị trường méo mó bởi tình trạng hai giá và chợ đen. Đặc biệt, để bù đắp thâm hụt ngân sách, Nhà nước phải phát hành tiền ồ ạt, dẫn đến lạm phát phi mã. Năm 1986, lạm phát vọt lên mức 453,5%, đồng tiền mất giá, niềm tin của người dân bị bào mòn nghiêm trọng.

Tuy vậy, chính trong bối cảnh khủng hoảng nặng nề đầu thập niên 80 thế kỷ trước, Đại hội lần thứ VI của Đảng năm 1986 đã đưa ra quyết sách Đổi mới toàn diện, tạo bước ngoặt lịch sử cho nền kinh tế Việt Nam. Nếu như trước đó, mọi hoạt động sản xuất, phân phối đều bị gò bó trong khuôn khổ kế hoạch hóa tập trung, thì sau Đổi mới, đất nước đã chuyển hẳn sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Người dân không còn cầm cuốn sổ gạo để “xin” phần ăn, doanh nghiệp không còn phụ thuộc vào chỉ tiêu Nhà nước, mà hàng hóa, dịch vụ bắt đầu được quyết định bởi giá cả thị trường. Đây cũng là bước mở cửa đầu tiên để Việt Nam thoát khỏi tình trạng khép kín, từng bước hội nhập với khu vực và thế giới.

Nhờ những cải cách quyết liệt về thể chế, chính sách tài chính - tiền tệ, thương mại, cùng với việc trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp và hộ gia đình, nền kinh tế đã nhanh chóng khôi phục niềm tin, chặn đứng siêu lạm phát và tạo đà tăng trưởng liên tục suốt hơn ba thập kỷ qua. Những biện pháp cốt lõi bao gồm: Xóa bỏ chế độ tem phiếu, áp dụng cơ chế giá thị trường, cải cách hệ thống ngân hàng để kiềm chế phát hành tiền tràn lan, khuyến khích kinh tế tư nhân, mở cửa thu hút vốn và công nghệ nước ngoài.

Kết quả là chỉ trong vòng vài năm, Việt Nam đã kiểm soát được siêu lạm phát, đưa nền kinh tế từ trạng thái trì trệ, khủng hoảng sang quỹ đạo phát triển năng động. Nếu như năm 1990, GDP bình quân đầu người mới chỉ đạt khoảng 98 USD, thì đến năm 2024 con số này đã vượt 4.600 USD. Hàng chục triệu người đã thoát nghèo, cơ cấu kinh tế dịch chuyển mạnh từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, Việt Nam chính thức gia nhập nhóm quốc gia thu nhập trung bình.

231.jpg
Các sản phẩm nhựa Tiền Phong ngày càng khẳng định thương hiệu trên thị trường. Ảnh: HẢi NAM

Mở ra cánh cửa hội nhập

Không chỉ dừng lại ở việc thoát khỏi khủng hoảng, ông Nguyễn Bích Lâm cho rằng, quyết sách Đổi mới còn mở ra cánh cửa hội nhập quốc tế. Từ đầu thập niên 90 thế kỷ trước, Việt Nam bình thường hóa quan hệ ngoại giao, gia nhập ASEAN (1995), ký kết hàng loạt hiệp định thương mại tự do và đặc biệt là trở thành thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007. Những cột mốc này đã đưa kinh tế Việt Nam gắn kết ngày càng sâu với thị trường khu vực và toàn cầu. Xuất khẩu từ chỗ chỉ vài tỷ USD đầu những năm 90 đã vượt ngưỡng 350 tỷ USD năm 2024. Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ồ ạt chảy vào, góp phần hình thành các ngành công nghiệp mũi nhọn như điện tử, dệt may, da giày, chế biến gỗ.

“Chính tiến trình hội nhập ấy vừa là cơ hội, vừa là phép thử cho năng lực thích ứng của nền kinh tế. Một mặt, nó giúp Việt Nam tận dụng được thị trường rộng lớn và nguồn vốn, công nghệ từ bên ngoài. Mặt khác, cũng đặt ra thách thức cạnh tranh khốc liệt, buộc doanh nghiệp và thể chế phải đổi mới liên tục để không bị tụt hậu”.

Còn theo TS Phan Phương Nam, Phó trưởng Khoa Luật Thương mại, Trường đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tiến trình hội nhập quốc tế không đơn thuần là mở cửa thị trường, mà sâu xa hơn, nó đã trở thành động lực buộc Việt Nam phải cải cách pháp luật để thích ứng với luật chơi toàn cầu.

Với mỗi hiệp định thương mại tự do (FTA) hay cam kết quốc tế mà Việt Nam ký kết đều kèm theo những yêu cầu pháp lý chặt chẽ. Từ thời điểm gia nhập WTO năm 2007 cho đến khi tham gia các FTA thế hệ mới như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) hay Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), hệ thống pháp luật trong nước đã liên tục điều chỉnh và bổ sung hàng trăm văn bản liên quan đến đầu tư, thương mại, sở hữu trí tuệ, môi trường và lao động. Quá trình này giúp khung khổ pháp lý của Việt Nam tiệm cận hơn với chuẩn mực quốc tế, đồng thời tạo môi trường minh bạch và ổn định cho hoạt động kinh doanh.

“Trên thực tế, các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như thép, tôm, cá tra, gỗ hay gần đây là pin năng lượng đều từng vướng vào các vụ kiện phòng vệ thương mại tại Mỹ, EU hoặc Ấn Độ. Nhờ có hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện, doanh nghiệp Việt Nam đã có cơ sở để tham gia tranh tụng, chứng minh và bảo vệ lợi ích chính đáng của mình”.

Công cuộc đổi mới lần thứ hai

Với những thành tựu đạt được, theo TS Phan Phương Nam, bài học quan trọng nhất từ 80 năm phát triển kinh tế Việt Nam là khả năng thích ứng thể chế và chính sách trước những thay đổi của kinh tế - xã hội, yếu tố giúp tăng sức chống chịu và tạo nền tảng tăng trưởng bền vững. Khả năng này không chỉ giúp Việt Nam vượt qua các cú sốc từ thị trường và kinh tế toàn cầu, mà còn đi đôi với hội nhập quốc tế, thúc đẩy tăng trưởng dài hạn, mở rộng xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài.

Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045 một cách bền vững và tự chủ, Việt Nam cần tập trung vào ba “mũi đột phá” then chốt. Thứ nhất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua giáo dục STEM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán học) và kỹ năng số, giúp chuyển từ tăng trưởng dựa vào lao động giá rẻ sang dựa vào tri thức, bảo đảm tự chủ kinh tế. Thứ hai, đầu tư vào công nghệ cao và công nghệ sạch, như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), bán dẫn và năng lượng tái tạo, nâng năng suất và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời giảm tác động môi trường. Thứ ba, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ từ FDI sang khu vực tư nhân, tăng năng lực nội tại và giảm phụ thuộc vào vốn nước ngoài.

“Ba mũi nhọn này sẽ giúp Việt Nam phát triển bền vững, đạt thu nhập cao, đồng thời bảo đảm tự chủ kinh tế và tránh rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”.

Cũng theo TS Nguyễn Bích Lâm, để ứng phó với biến động khó lường và hiện thực hóa khát vọng xây dựng một Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Đảng và Nhà nước đã khởi xướng công cuộc đổi mới lần thứ hai, tập trung đổi mới hệ thống chính trị đồng bộ với kinh tế, đồng thời đổi mới tư duy phát triển và quản trị quốc gia. Bộ Chính trị chỉ đạo sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phân định rõ chức năng giữa các cơ quan và các đoàn thể. Đồng thời, sắp xếp lại địa giới hành chính, tạo liên kết giữa không gian phát triển kinh tế và địa giới, khai thác nguồn lực, thúc đẩy phát triển địa phương.

Vì vậy, hòa chung với công cuộc đổi mới lần thứ hai, chính sách tài khóa được cải cách trên bốn trụ cột, gồm xây dựng khung tài khóa trung hạn linh hoạt, duy trì kỷ luật và đánh giá hiệu quả chi tiêu; cải cách hệ thống thuế công bằng, hiệu quả; cơ cấu lại chi tiêu công, ưu tiên đầu tư chất lượng cao và đổi mới sáng tạo; và triển khai ngân sách theo kết quả đầu ra, phát triển tài khóa xanh, bao trùm và số hóa.

“Sau 80 năm chuyển mình, từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung đến nền kinh tế thị trường hội nhập sâu rộng, Việt Nam đã thể hiện sức mạnh thích ứng, đổi mới và khát vọng vươn lên. Đồng thời, những bài học quý giá này cũng là nền tảng vững chắc để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới lần thứ hai, hướng tới phát triển bền vững, sáng tạo và tự chủ trong kỷ nguyên mới”, TS Nguyễn Bích Lâm kỳ vọng.

gia hưng